10 Vị Đại Đệ Tử Của Đức Phật Là Ai ?

15 Mẫu Tượng Phật Di Lặc Thạch Anh – Thạch Ngọc Đẹp Hoan Hỉ

10 Bộ Tượng Tây Phương Tam Thánh Đá Ngọc Đẹp Tại Kho

Mẫu Tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát Diện Đẹp Từ Bi

Mẫu Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Tĩnh Tâm Bằng Đá Đẹp Nhất

Mẫu Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Tĩnh Tâm Bằng Đá Đẹp Nhất

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một trong những Vị Phật được tôn sùng nhất trong Phật Giáo. Ngài là người sáng lập ra đạo Phật. Trong các Chùa, tượng Phật Thích Ca Mâu Ni thường được thờ ngay giữa chính điện trong tư thế ngỗi tĩnh tâm trang nghiêm, từ bi, thoát tục. Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cũng được nhiều gia đình lựa chọn để Thỉnh về thờ khi lập bàn thờ Phật tại nhà. Lập bàn thờ Phật tại nhà cũng là cách để các gia đình Phật tử tuyên xưng niềm tin, tỏ lòng tôn kính, biết ơn với Đức Phật. Qua việc thờ phụng mỗi ngày tu tâm dưỡng tính, sống theo lời dậy của Đức Phật để mang lại sự bình an, thanh tịnh trong tâm hồn.

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni tĩnh tâm được nhiều cơ sở chế tác với nhiều chất liệu khác nhau, mỗi chất liệu mang nét đẹp độc đáo riêng. Trong đó tượng Phật bằng đá nhận được nhiều sự quan tâm và lựa chọn của khách hàng. Bởi tượng Phật bằng đá đẹp có màu sắc đẹp tự nhiên, tinh tế, sang trọng, phù hợp với mọi không gian thờ cúng. Từng đường nét được chạm khắc tỉ mỉ, sắc nét, chính xác tới từng góc cạnh. Cho tượng toát nên vẻ đẹp sống động và rất chân thực.

Viện Nghiên Cứu Phật Giáo là cơ sở uy tín chuyên chế tác và cung cấp đồ thờ cúng ra thị trường trong và ngoài nước. Đặc biệt là các mẫu tượng Phật được nhiều khách hàng tin tưởng, chọn lựa và rất hài lòng. Bởi các sản phẩm đẹp, chất lượng, rõ nguồn gốc, giá cả hợp lý và chế có độ bảo hành lâu dài.

Viện Nghiên Cứu Phật Giáo xin giới thiệu tới quý khách hàng “Mẫu Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Tĩnh Tâm Bằng Đá Đẹp Nhất” hiện nay:

Mẫu Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni Tĩnh Tâm Bằng Đá Đẹp Nhất

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni tĩnh tâm đá Thạch Anh
Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni màu vàng hổ phách
Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni trắng ngọc
Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni màu xanh ngọc
Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng bột đá vẽ gấm ve sơn
Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni bằng bột đá dát vàng

Ý nghĩa tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi tĩnh tâm trên đài sen

Hoa sen được biểu thị cho đức tính thanh tịnh và giải thoát. Bởi hoa sen nảy nở từ trong vũng bùn nhơ nhớp nhưng vẫn tỏa hương thơm thanh khiết. Đặc tính này chỉ có ở hoa sen, không thể tìm được ở trong các loài hoa khác. Nằm giữa bùn nhớp, hôi tanh mà không bị lây nhiễm mùi bùn, trái lại còn tỏa hương thơm ngát, đó mới thật là thanh tịnh.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng sinh ra là một con người như chúng ta, có gia đình, sống giàu sang quyền quý. Nhưng Ngài không bị dục lạc làm ô nhiễm, không bị sợi dây gia đình trói buộc. Sống trong ô nhiễm dục lạc mà tâm hồn Ngài vẫn trinh bạch, ngồi trong tù ngục gia đình mà chí Ngài đã vượt ra ngoài vũ trụ mênh mông. Đức tính trinh bạch siêu việt ấy chỉ có hoa sen mới đủ sức tượng trưng.

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi tĩnh tâm trên đài sen thể hiện cho sự thanh tịnh và giải thoát một cách tốt nhất. Đôi mắt Ngài đăm chiêu hiền từ nhìn xuống chúng sinh biểu thị cho sự quan sát nội tâm, tĩnh lặng để quan sát mọi vạn vật. Giáo lý Phật dạy là giáo lý nội quan, tâm mình là chủ nhân của mọi hành động, mọi nghiệp quả, luôn phản chiếu nội tâm để tự giác ngộ. Hình ảnh Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi tĩnh tâm trên đài sen cũng là thể hiện cho sự giác ngộ, nhận ra những chân lý trong cuộc sống.

Quá trình tu tập và thành đạo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Sau khi rời khỏi hoàng cùng, Ngài trải qua cuộc sống khất thực. Và bắt đầu thử cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Ngài quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với nhiều giáo phái khác nhau để theo học.

Theo truyền thống Ấn Độ lúc bấy giờ  chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Thời đó có hai vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng đó là A-la-la Ca-lam và Ưu-đà-la La-ma-tử. Ngài đã tới thụ giáo hai vị đạo sư tôn kính này và chẳng bao lâu Ngài đã đạt được sở ngộ. Nơi đạo sư A-la-la Ca-lam Ngài nhanh chóng đạt đến cấp Thiền Vô Sở Hữu Xứ, nơi thì học đạt đến cấp Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, là trạng thái siêu việt nhất của thiền định.

Nhưng Ngài không tìm thấy nơi các vị ấy lời giải cho những thắc mắc của mình. Không thể giải thoát ra khỏi những nghi hoặc vì Ngài không thể tìm thấy nguyên nhân sinh ra thống khổ và phương pháp để tuyệt diệt sự thống khổ, không phải chân lý tối hậu. Ngài biết rằng đây vẫn còn trong vòng sinh tử, nên quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát. Có 5 vị tu khổ hạnh tôn kính trước thành tựu của Ngài mà tự nguyện theo. 

Sau 5 năm tu khổ hạnh, với kết quả thân thể kiệt quệ không còn đi đứng được nhưng tâm thức còn sáng suốt. Ngài hiểu rằng sự khổ hạnh của mình là không có ý nghĩa, nhận ra đó không phải là cách tu dẫn đến giác ngộ. Ngài thấy rằng sự giải thoát an lạc, diệt trừ khổ đâu không thể tìm cầu ở bên ngoài. Mà sự chứng ngộ ấy phải được thể hiện ở chính trong nội tâm của mỗi người. Ngài tới sông Ni Liên Thiền gột bỏ hết những bụi bặm bám trên thân thể trong những năm qua và bắt đầu ăn uống lại bình thường để phục hồi thể lực. Năm người đồng tu với Ngài không chấp nhận hành động đó, cho rằng Ngài đã thối chí nên thất vọng bỏ đi.

Còn lại một mình, Ngài đến dưới gốc cây Tất Bát La (còn gọi là cây Bồ Đề) xếp bằng tĩnh tọa, tổng kết lại kinh nghiệm tu tập trong quá khứ, điều chỉnh lại phương pháp tư duy. Trong 49 ngày đêm với tâm định tĩnh, chánh niệm, tỉnh giác…  Đêm hôm đó, Ngài bắt đầu thực hành các pháp thiền định, rồi hướng tới tam minh, và bắt đầu chứng đắc các đạo quả:

  • Tận diệt các vi tế phiền não trong tâm làm nghiệp nhân cho sinh tử luân hồi. Canh một Ngài chứng Túc – mệnh – minh, biết rõ vô lượng kiếp quá khứ của mình.
  • Sang Canh ba Ngài chứng Thiên – nhãn – minh, thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của chúng sinh. Biết rõ tất cả nhân duyên, nghiệp báo của chúng sinh, từ đó suy ra nhân – quả, luân – hồi.
  • Qua canh năm Ngài chứng Lậu – tận – minh, tìm ra phương cách giúp chúng sinh chấm dứt phiền – não và vô – minh, đạt đến giác ngộ hoàn toàn, thoát ra khỏi vòng sinh – tử luân – hồi.
  • Sau cùng Ngài chúng đắc quả Vị Phật đầu tiên trọng hiện kiếp, lúc ấy sao mai vừa mọc. Danh hiệu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được thế gian tôn xưng từ đó.

Theo các tài liệu Phật Giá ghi lại đó là ngày mùng 8 tháng Chạp năm 589 TCN, ở tuổi 35 Ngài đã đạt tới giác ngộ, trở thành Phật toàn giác.

Ý Nghĩa Danh hiệu Phật Thích Ca Mâu Mi

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có tên thế tục là Kiều Đạt Ma – Tất Đạt Đa. Trong đó: Kiều Đạt Ma là họ tộc. Ở Ấn Độ cổ họ tộc truyền thống là theo họ tộc mẫu hệ. Kiều Đạt Ma là dòng họ thế tục của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong tiếng Phạn, Kiều Đạt Ma có ý nghĩa là hiền lành, tốt đẹp. Tất Đạt Đa là tên. Trong tiếng Phạn có ý nghĩa là sự may mắn, cát tường. Mang hàm nghĩa là “ thành tựu hết thảy”, “hoàn thành trọn vẹn”.

Thế nhân tôn Ngài làm Thích Ca Mâu Ni. Trong đó Thích Ca là bộ tộc của Ngài, trong tiếng Phạn có ý tứ là văn võ song toàn. Còn Mâu Ni là cách gọi tôn kính của người Ấn Độ cổ đối với các bậc Thánh Nhân, có hàm ý chỉ người cạo đầu xuất gia đã tu hành thành công. Danh hiệu Thích Ca Mâu Ni trong tiếng Phạn có ý chỉ người cạo đầu xuất gia đã tu hành thành công là người tộc Thích Ca.

Các tôn hiệu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni  có nhiều tôn hiệu khác nhau. Tất cả các tôn hiệu này đều xuất hiện sau khi Ngài tu hành đắc đạo và thuyết pháp độ chúng.

  • Như Lai : Là tôn hiệu thường dùng nhất để chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong tiếng Phạn, “Như” còn được gọi là “Như Thực” hay “Chân Như”, “Lai” nghĩa là đến. “Như Lai” nghĩa là “Người đã đến như thế” hoặc “Người đã đến từ cõi Chân Như”. “Như Lai” là những người đến bằng con đường chân thực, những người đã hiểu rõ chân lý, những người đi theo con đường đúng đắn đến được chính giác.
  • Ứng Cúng: Nghĩa là người đáng được cúng dường, là người tôn kính. Đức Phật là người đã đoạn trừ nghiệp, hoặc, vĩnh viễn thoát khỏi vòng sinh tử luôn hồi, muôn đức tôn nghiêm, phúc tuệ đầu đủ nên xứng đáng với sự cúng dường của chư Thiên và loài Người.
  • Chính Biến Tri: “Chính” là chân chính. “Biến” là khắp nơi, rộng lớn. “Tri” là hiểu biết. “Chính Biến Tri” nghĩa là “Người hiểu biết đúng tất cả các pháp”.
  • Minh Hạnh Túc: Hàm ý là “Người có đủ trí tuệ và đức hạnh”. Tức là người có đầy đủ Tam Minh (Túc Mệnh Minh, Thiên Nhãn Minh, Lậu Tận Minh) và Ngũ Hạnh (Thánh Hạnh, Phạm Hạnh, Thiên Hạnh, Anh Nhi Hạnh, Bệnh Hạnh).
  • Thiện Thệ: “Thiện” nghĩa là tốt, khéo léo. “Thệ” nghĩa là đi, vượt qua. “Thiện Thệ” có nghĩa là Người đã đi một cách tốt đẹp.  Đức Phật là người tu tập theo con đường chân chính, biết khéo léo vượt qua tất cả để nhập Niết Bàn.
  • Thế Gian Giải: Có ý nghĩa là “Đức Phật là người đã thấu hiểu tất cả các pháp của thế gian”.
  • Vô Thượng Sĩ: Là “Bậc tu hành tối cao, không ai vượt qua”. Trong tất cả các pháp thì Niết Bàn là Vô Lượng, trong loài người thì Đức Phật là Vô Lượng, trong các thành quả thì Chính Giác là Vô Lượng. Chúng sinh trong chín cõi đều không so sánh được với Đức Phật, nên Ngài có tôn hiệu là “Vô Thượng Sĩ”, là người đã lên đến cao vô thượng.
  • Điều Ngự Trượng Phu: Nghĩa là “Người đã chế ngự được bản ngã và nhân loại”. Đức Phật là Đấng đại trượng phu có khả năng điều phục, chế ngự mọi ma chướng trong khi tu hành chính đạo.  “Điều Ngự Trượng Phu” còn có nghĩa khác là Đức Phật có khả năng điều phục những người hiền và ngự phục những kể ác theo về chính đạo.
  • Thiên Nhân Sư: Có nghĩa là “Bậc thầy của cõi người và cõi trời”. Đức Phật là bậc đạo sư, là người thầy đưa đường dẫn lỗi đến giải thoát cho cả chư Thiên lẫn loài người.
  • Thế Tôn: Mang nghĩa là “Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính”. “Thế Tôn” là cái tên trong đạo Bà La Môn dùng để gọi những vị trưởng giả. Phật Giáo coi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người đức hạnh vẹn toàn, công đức đầy đủ, có thể làm lợi cho thế gian, muôn loài đều tôn kính. Nên các Tăng sĩ, Phật Tử của Phật Giáo sau này cũng dùng cái tên này để tỏ lòng tôn kính với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
  • Từ Phụ: Đức Phật thương yêu tất cả chúng sinh như cha mẹ nhân từ thương con cái. Đức Phật không phân biệt người sang kẻ hèn, không phân biệt sự kính trọng hay sự phỉ bang của chúng sinh đối với mình. Ngài vẫn dành tình thương cho hết thảy chúng sinh một cách bình đẳng, an nhiên vô ngại. Chúng sinh càng lầm lạc thì long từ bi của Đức Phật càng vô lượng vô biên.
  • Chân Thật Ngữ: Đức Phật là đấng nói những lời chân thật, không phỉnh gạt chúng sinh. Lời của Đức Phật đều xuất phát từ trí tuệ hoàn hảo, không phải tùy tiện.

Cùng chuyên mục

Mẫu Tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát Diện Đẹp Từ Bi

Quan Thế Âm Bồ Bát là hình tượng biểu trưng cho lòng từ bi, yêu thương, che chở, bảo bọc cho hết thảy mọi loài. Ngài như mẹ hiền với...

10 Bộ Tượng Tây Phương Tam Thánh Đá Ngọc Đẹp Tại Kho

Tây Phương Tam Thánh là bộ ba vị Phật được các Phật Tử quý trọng và tôn thờ. Các Ngài là những bậc chí tôn đã tìm ra con đường...

15 Mẫu Tượng Phật Di Lặc Thạch Anh – Thạch Ngọc Đẹp Hoan Hỉ

Đức Phật Di Lặc là vị Phật của tương lai, được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thọ ký sẽ xuất hiện trên trái đất này sau một thời gian...

Trở thành người đầu tiên bình luận cho bài viết này!

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Ẩn